Website chia sẻ kiến thức về Luật Thương mại quốc tế

Giải quyết tranh chấp theo RCEP 

Một điểm đáng lưu ý đầu tiên - Điều 19.3 loại trừ rõ ràng các khiếu kiện không vi phạm (non-violation complaints). Đối với tôi, việc khiếu kiện không vi phạm dường như luôn tạo ra nhiều cuộc tranh luận hơn mức đáng có.

0 66

Giải quyết tranh chấp theo RCEP 

Là một cựu luật sư của WTO, tôi luôn quan tâm đến việc so sánh các thủ tục của WTO với các thủ tục của các hiệp định thương mại khác. Gần đây, tôi thấy mình đang nghiên cứu kỹ các điều khoản giải quyết tranh chấp của RCEP. Trong khi đây là tin tức của ngày hôm qua, có lẽ một số độc giả chưa nghiên cứu RCEP có thể quan tâm đến các nghiên cứu ngẫu nhiên của tôi.

Giải quyết tranh chấp RCEP – giống như của hầu hết các RTA khác – thường được xây dựng dựa trên cấu trúc của DSU (với ngoại lệ đáng chú ý là không có Cơ quan Phúc thẩm). Vì vậy, nhận xét của tôi sẽ có xu hướng tập trung vào các lĩnh vực mà các nhà đàm phán đã quyết định đi chệch khỏi cách tiếp cận của WTO (hoặc không).

Một điểm đáng lưu ý đầu tiên – Điều 19.3 loại trừ rõ ràng các khiếu kiện không vi phạm (non-violation complaints). Đối với tôi, việc khiếu kiện không vi phạm dường như luôn tạo ra nhiều cuộc tranh luận hơn mức đáng có.

Cũng như nhiều FTA khác, một loạt các điều khoản / biện pháp được đưa ra để giải quyết tranh chấp. Điều này đúng với Section B của Chapter 7, liên quan đến các biện pháp phòng vệ thương mại (tiêu chuẩn cho các FTA), nhưng cũng đúng với trường hợp của điều khoản về chống tham nhũng (ngắn gọn đáng chú ý) trong Điều 17.9 và đối với các quyết định liên quan đến đầu tư (Điều 17.11). Điều khoản khắc phục thứ hai cũng áp dụng cho việc thực thi các điều kiện/yêu cầu đầu tư, dường như đảo ngược trường hợp của GATT về Đạo luật rà soát đầu tư nước ngoài của Canada.

Giống như hầu hết các FTA, RCEP kết hợp với các nghĩa vụ tham chiếu của WTO (ví dụ, Điều III của GATT về đối xử quốc gia và các ngoại lệ chung trong Điều XX của GATT và Điều XIV của GATS). Trong các trường hợp khác, nó bao gồm các điều khoản dù dựa trên, nhưng đã được thay đổi từ các điều khoản của WTO (ví dụ như Điều XXI của GATT, trong đó RCEP bổ sung cơ sở hạ tầng quan trọng cho ngoại lệ an ninh). Điều 19.4 nêu rõ rằng, khi một điều khoản của WTO được đưa vào bằng cách tham chiếu, các giải thích có liên quan của các ban hội thẩm WTO/AB sẽ được “cân nhắc đến” (“considered”), trong khi một lưu ý làm rõ thêm rằng những cách giải thích đó cũng có thể được xem xét ngay cả khi chúng không liên quan đến một nghĩa vụ được đưa bằng cách tham khảo (reference).

Với sự bế tắc hiện tại về AB của WTO, chúng ta có thể thấy nhiều trường hợp hơn trong đó các nghĩa vụ của WTO đang có hiệu lực được khởi kiện theo các FTA (chẳng hạn như vụ EU chống lại Ukraine về các lệnh cấm xuất khẩu gỗ tròn). Sẽ rất thú vị khi thấy cách các Ban hội thẩm FTA đối phó với thực tế là ngay cả một điều khoản của WTO được đưa vào bằng cách tham chiếu cũng phải được giải thích theo bối cảnh của nó (bối cảnh của FTA), sao cho nó có thể có ý nghĩa rất khác về mặt logic bối cảnh mới.

Tất nhiên, quy trình thành phần ban hội thẩm khác đáng kể so với quy trình trong WTO (và các FTA khác). Dường như không có một danh sách các hội thẩm viên. Thay vào đó, trước tiên các bên tham khảo ý kiến về thủ tục thành phần (Điều 19.3). Nếu họ không thể đồng ý, mỗi bên sẽ chỉ định hội thẩm viên của mình và họ tìm cách thống nhất về một Chủ tịch. Nếu họ không thể đồng ý, Tổng Giám đốc WTO được đề nghị bổ nhiệm Chủ tịch; nếu không lựa chọn được, Tổng thư ký của Tòa án Trọng tài Thường trực sẽ tham gia vào. Chủ tịch sẽ là, “bất cứ khi nào có thể” (wherever possible), đã là thành viên của một ban hội thẩm/AB của WTO (Điều 19.11 (11) (c). Thật kỳ lạ, mỗi bên “sẽ chịu chi phí cho thành viên ban hội thẩm được chỉ định”, một điều khoản mà tôi thấy có vẻ khó hiểu (Điều 19.19).

Chuyển sang các vấn đề cụ thể hơn, cách tiếp cận của RCEP về tính minh bạch rất thú vị. Về tính minh bạch nội bộ, các bên thứ ba được đánh giá tốt so với WTO (tiếp cận với tất cả các đệ trình và phiên điều trần, quyền tham gia tố tụng về mức độ đình chỉ). Tuy nhiên, về tính minh bạch bên ngoài, các đệ trình của các bên vẫn được giữ bí mật và không có nội dung nào trong văn bản cho thấy sẽ có các phiên điều trần mở. Vì vậy, không có sự phát triển nào từ DSU, và không phản ánh thông lệ đang phát triển WTO.

Một lĩnh vực mà RCEP tìm cách xóa bỏ những khiếm khuyết của WTO là xem xét việc tuân thủ sau đình chỉ. Ở đây, RCEP dường như áp dụng cách tiếp cận của AB trong vụ EU-Hormones, cho phép một ban hội thẩm thứ Chuyển sang các vấn đề cụ thể hơn, cách tiếp cận của RCEP về tính minh bạch rất thú vị. Về tính minh bạch nội bộ, các bên thứ ba được đánh giá tốt so với WTO (tiếp cận với tất cả các đệ trình và phiên điều trần, quyền tham gia tố tụng về mức độ đình chỉ). Tuy nhiên, về tính minh bạch bên ngoài, các đệ trình của các bên vẫn được giữ bí mật và không có nội dung nào trong văn bản cho thấy sẽ có các phiên điều trần mở. Vì vậy, không có sự phát triển nào từ DSU, và không phản ánh thông lệ đang phát triển WTO. theo yêu cầu của một trong hai bên; ban hội thẩm đó cũng có thể xem xét mức độ đình chỉ dựa trên biện pháp tuân thủ có chủ đích. Điều này có vẻ như là một ý tưởng hợp lý (Điều 19.16 (13)).

Cuối cùng là ngôn ngữ. “Tất cả các thủ tục tố tụng… sẽ được tiến hành bằng tiếng Anh”. Điều 19.21. Thật khó để tưởng tượng các Thành viên của WTO lại đồng ý với bất kỳ điều khoản nào như vậy.

Người dịch: Tào Thị Huệ

Nguồn: RCEP dispute settlement – Some observations, https://ielp.worldtradelaw.net/2021/07/rcep-dispute-settlement-some-observations.html, truy cập ngày 10/7/2021

Leave A Reply

Your email address will not be published.