Website chia sẻ kiến thức về Luật Thương mại quốc tế

Ý nghĩa của Hiệp định CPTPP đối với thương mại dịch vụ của Canada?

Chương Thương mại dịch vụ xuyên biên giới (cross-border trade in services - CBTS) và dịch vụ tài chính của CPTPP bao gồm các quy tắc nhằm tạo thuận lợi cho việc trao đổi dịch vụ, dựa trên các cam kết được thực hiện theo Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) năm 1995 của WTO

0 171

 

Ý nghĩa của Hiệp định CPTPP đối với thương mại dịch vụ của Canada [1]?

Tổng quan
– CPTPP mang lại cho các nhà cung cấp dịch vụ của Canada sự bảo vệ, khả năng dự đoán và minh bạch được cải thiện để tiến hành kinh doanh, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận các thị trường CPTPP rộng lớn và đang phát triển.
– Điều này sẽ mang lại lợi ích cho các công ty Canada trong các lĩnh vực như tài chính, chuyên môn (ví dụ: kỹ thuật và kiến trúc), liên quan đến máy tính, nghiên cứu và phát triển, xây dựng, giáo dục, môi trường và các dịch vụ liên quan đến khai thác mỏ.
– Canada duy trì sự linh hoạt về chính sách trong các lĩnh vực nhạy cảm như mang tính bản địa[2] và các vấn đề thiểu số, văn hóa, ngư nghiệp, dịch vụ xã hội (bao gồm y tế và giáo dục công cộng) và một số dịch vụ giao thông nhất định, cùng những dịch vụ khác.

Mô tả giao dịch thương mại
Cho đến nay, lĩnh vực dịch vụ là bộ phận lớn nhất của nền kinh tế Canada, chiếm gần 70% GDP của Canada và sử dụng gần ba phần tư dân số Canada đang làm việc (hơn 13,6 triệu người).

Sự kiện và số liệu chính
Xuất khẩu dịch vụ của Canada sang các nước CPTPP trị giá ít nhất 6,6 tỷ đô la mỗi năm vào năm 2016, chiếm 6% tổng thương mại dịch vụ của Canada — với tiềm năng tăng trưởng lớn.

Năm dịch vụ hàng đầu của Canada xuất khẩu sang các nước CPTPP (2015):
Giao thông vận tải: 1,3 tỷ USD
Quản lý: 497 triệu USD
Dịch vụ kiến trúc, kỹ thuật và các dịch vụ kỹ thuật khác: 393 triệu USD
Tài chính: 302 triệu USD
Bảo dưỡng và sửa chữa: 200 triệu USD

CPTPP mang lại lợi ích như thế nào cho các nhà cung cấp dịch vụ
Các hiệp định thương mại tự do (FTA) tạo thuận lợi hơn cho việc xuất nhập khẩu hàng hóa hữu hình. Phần lớn các ý tưởng và chuyên môn cũng được trao đổi thông qua thương mại dịch vụ, chẳng hạn như kiến trúc, kỹ thuật, quản lý thông tin, giám sát và bảo vệ môi trường, khai thác và phát triển năng lượng, vận tải và dịch vụ tài chính. Dịch vụ là một số công việc được trả lương cao nhất ở Canada.

Chương Thương mại dịch vụ xuyên biên giới (cross-border trade in services – CBTS) và dịch vụ tài chính của CPTPP bao gồm các quy tắc nhằm tạo thuận lợi cho việc trao đổi dịch vụ, dựa trên các cam kết được thực hiện theo Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) năm 1995 của WTO:

Đối xử quốc gia: các đối tác thương mại không được phân biệt đối xử với các nhà cung cấp dịch vụ của nhau để ưu đãi các nhà cung cấp dịch vụ của chính họ
Đối xử tối huệ quốc: các đối tác thương mại không được phân biệt đối xử với các nhà cung cấp dịch vụ để ưu đãi các nhà cung cấp dịch vụ từ bất kỳ quốc gia nào khác. và
Tiếp cận thị trường: các đối tác thương mại không thể áp đặt những hạn chế nhất định gây khó khăn cho các nhà cung cấp dịch vụ từ các nước CPTPP trong việc cạnh tranh trên thị trường sở tại.
Theo CPTPP, Canada cũng duy trì sự linh hoạt trong chính sách nhằm điều chỉnh lợi ích công cộng thông qua các biện pháp bảo lưu được gọi là “các biện pháp không tương thích” (“non-conforming measures.”). Các biện pháp không tương thích cho phép các chính phủ duy trì các ngoại lệ đối với các chương đầu tư và dịch vụ của CPTPP bằng cách liệt kê các hoạt động hoặc lĩnh vực biện pháp cụ thể không áp dụng các nghĩa vụ theo các chương này. Điều này giúp đảm bảo rằng các chính phủ có thể tiếp tục duy trì các biện pháp và chính sách về dịch vụ và đầu tư, dựa trên các ưu tiên trong nước. Các biện pháp không tuân thủ này được nêu trong Phụ lục I và II của Hiệp định.

Thương mại dịch vụ xuyên biên giới (CBTS)
Chương CBTS của CPTPP đưa ra các cam kết vượt ra ngoài GATS và các FTA hiện có của Canada với các đối tác CPTPP (như Chile, Mexico và Peru).

Trong CPTPP, Canada được tiếp cận với các thị trường mới trong các lĩnh vực như:

  • dịch vụ chuyên nghiệp (ví dụ: pháp lý, kỹ thuật và kiến trúc) và dịch vụ vận tải từ tất cả 10 đối tác
  • các dịch vụ liên quan đến máy tính từ Úc, Chile, Malaysia và Mexico
  • các dịch vụ nghiên cứu và phát triển từ Úc, Chile, Nhật Bản, Malaysia, New Zealand, Singapore và Việt Nam
  • dịch vụ xây dựng từ Úc, Mexico, New Zealand và Việt Nam
  • dịch vụ giáo dục từ Malaysia, New Zealand, Singapore và Việt Nam
  • dịch vụ môi trường từ Úc, Brunei, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru và Việt Nam
  • các dịch vụ liên quan đến khai thác từ Brunei, Chile, Malaysia và Singapore, và
  • các dịch vụ liên quan đến phân phối năng lượng từ Brunei, Chile, Malaysia, New Zealand và Singapore.

Ngoài ra, mỗi nước CPTPP đều có các biện pháp, hoạt động hoặc lĩnh vực cụ thể mà nước đó có thể bảo lưu, như được liệt kê trong Phụ lục I và II của Hiệp định.

Trong Phụ lục I, mỗi quốc gia CPTPP có một danh sách các biện pháp không tương thích ảnh hưởng đến dịch vụ và đầu tư tồn tại ở quốc gia đó vào thời điểm CPTPP được ký kết và quốc gia đó dự định duy trì. Các biện pháp này không cần phải thay đổi ngay cả khi chúng không phù hợp với các nghĩa vụ nhất định trong Hiệp định. Các quốc gia cũng cam kết rằng các biện pháp không tuân thủ được liệt kê trong Phụ lục I sẽ không trở nên hạn chế hơn trong tương lai.

Trong Phụ lục II, mỗi quốc gia CPTPP có các bảo lưu đối với các lĩnh vực hoặc hoạt động mà quốc gia đó muốn duy trì sự linh hoạt về chính sách, hiện tại và trong tương lai. Điều này cho phép Canada duy trì sự linh hoạt về chính sách trong các lĩnh vực nhạy cảm như các vấn đề của người bản địa và thiểu số, văn hóa và dịch vụ xã hội (bao gồm y tế và giáo dục công cộng) và một số dịch vụ giao thông nhất định. Những bảo lưu này cho phép Canada đưa ra các biện pháp mới trong các lĩnh vực này trong tương lai dựa trên các ưu tiên trong nước, bất kể cam kết của Canada trong CPTPP.

Các dịch vụ tài chính
Chương Dịch vụ tài chính của CPTPP áp dụng cho các biện pháp được các nước CPTPP áp dụng hoặc duy trì liên quan đến các tổ chức tài chính, các nhà đầu tư và các khoản đầu tư tương ứng của họ vào các tổ chức tài chính và thương mại xuyên biên giới trong các dịch vụ tài chính. Dựa trên các nghĩa vụ về đối xử quốc gia, đối xử MFN và tiếp cận thị trường theo GATS, chương:

  • bao gồm các nghĩa vụ liên quan đến tính minh bạch để giúp các nhà cung cấp dịch vụ tài chính điều hướng tốt hơn các cơ chế quản lý ở các nước CPTPP (ví dụ: bằng cách thiết lập các quy tắc để các nước CPTPP công bố trước các quy định về lĩnh vực tài chính được đề xuất)
  • tạo cơ hội cho các cơ quan tài chính thảo luận thông qua một ủy ban về bất kỳ vấn đề nào liên quan đến lĩnh vực tài chính (ví dụ, để tránh hoặc giải quyết các rào cản gia nhập không cần thiết mà các tổ chức tài chính ở các nước CPTPP gặp phải)
  • kết hợp các biện pháp bảo vệ từ chương đầu tư để bảo vệ các nhà đầu tư và đầu tư dịch vụ tài chính, và
  • bao gồm một ngoại lệ, đảm bảo rằng các cơ quan tài chính có thể thực hiện các biện pháp vì lý do thận trọng để bảo vệ tính lành mạnh của hệ thống tài chính và lợi ích của người tiêu dùng dịch vụ tài chính mà không vi phạm CPTPP.

Quan trọng là, chương này điều chỉnh các điều khoản giải quyết tranh chấp của CPTPP phù hợp với bản chất riêng của dịch vụ tài chính. Ví dụ, chương này đưa ra các yêu cầu chuyên môn đặc biệt đối với các trọng tài viên trong trường hợp có tranh chấp liên quan đến các dịch vụ tài chính. Chương này cũng thiết lập một quy trình chính thức để các cơ quan tài chính cùng xác định xem việc sử dụng ngoại lệ thận trọng của một quốc gia CPTPP có phải là biện pháp bảo vệ hợp lệ cho khiếu nại của nhà đầu tư (và không trái với CPTPP) hay không.

Theo Phụ lục III của Hiệp định, mỗi nước CPTPP liệt kê các biện pháp không tương thích trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, được tổ chức thành hai phần:

  • Phần A bao gồm các bảo lưu đối với các biện pháp không tương thích hiện tại mà các nước CPTPP có thể không hạn chế hơn trong tương lai; và
  • Phần B bao gồm các bảo lưu cho các lĩnh vực hoặc hoạt động mà các nước CPTPP có thể muốn duy trì tính linh hoạt của chính sách, hiện tại và trong tương lai. Vì mục đích minh bạch, Phần B cũng có thể bao gồm một danh sách không đầy đủ các biện pháp hiện có áp dụng cho các lĩnh vực hoặc hoạt động được đề cập trong bảo lưu./.

[1] Tên do người dịch đặt cho phù hợp nội dung bài viết

[2] Nhất quán với cách tiếp cận của Canada đối với các FTA trước đây, CPTPP bao gồm các bảo lưu và ngoại lệ cho phép Chính phủ Canada áp dụng hoặc duy trì các biện pháp trao quyền hoặc đặc quyền cho người bản địa ở Canada. Trong CPTPP, những bảo lưu và ngoại lệ này được thực hiện theo lĩnh vực “Các vấn đề của thổ dân” (“Aboriginal affairs”), với thuật ngữ “Các dân tộc thổ dân” (“Aboriginal peoples” ) có liên quan pháp lý trực tiếp đến Mục 35 của Đạo luật Hiến pháp năm 1982 và với tất cả các quyền trong đó là “thổ dân và quyền theo hiệp ước. ” (“aboriginal and treaty rights.”.)

Nguồn: Government of Canada, What does the CPTPP mean for services?, https://www.international.gc.ca/trade-commerce/trade-agreements-accords-commerciaux/agr-acc/cptpp-ptpgp/sectors-secteurs/services.aspx?lang=eng, truy cập 02/2/2021

Người dịch: Tào Thị Huệ

Leave A Reply

Your email address will not be published.