Website chia sẻ kiến thức về Luật Thương mại quốc tế

Visit Website bokepxxx.ninja
www.xxx-in.pro will he get his turn after he is done eating pussy.
creampie

“TÍNH BẢO MẬT” TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ BẰNG TRỌNG TÀI TẠI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Tính bảo mật (confidentiality) thường được nêu ra khi trình bày về những ưu điểm của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Là ưu điểm, bởi các phiên xét xử của trọng tài không phải công khai và các phán quyết trọng tài cũng không phải công bố

0 929

“TÍNH BẢO MẬT” TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ BẰNG TRỌNG TÀI TẠI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Tóm tắt: “Tính bảo mật” luôn được coi là một ưu điểm của giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài. Tuy nhiên, cách tiếp cận về nội dung “tính bảo mật” tại các quốc gia có sự khác nhau. Bài viết này trình bày hai nội dung chính: (1) phân tích “tính bảo mật” trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài tại Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Trung Quốc và Việt Nam; (2) đưa ra một số bình luận, đề xuất nhằm thực thi hiệu quả tính bảo mật” trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài tại Việt Nam.

Từ khóa: trọng tài, tính bảo mật, thỏa thuận bảo mật.

“Tính bảo mật (confidentiality) thường được nêu ra khi trình bày về những ưu điểm của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Là ưu điểm, bởi các phiên xét xử của trọng tài không phải công khai và các phán quyết trọng tài cũng không phải công bố”.[1]

Ưu điểm này đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của doanh nghiệp đối với vấn đề bảo mật trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế. “Điều này có thể được giải thích bằng hai yếu tố: Thứ nhất, tầm quan trọng của tài sản phi vật chất, như quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết và danh tiếng. Ngày nay, những tài sản này là tài sản quý giá nhất của các tập đoàn đa quốc gia trên thế giới; thứ hai, số lượng lớn các thông tin chi tiết và quan trọng mà cả hai bên tranh chấp được yêu cầu đưa ra trong quá trình tố tụng trọng tài”.[2]

Nhưng “tính bảo mật” trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại trọng tài không mang tính tuyệt đối. Nội dung và giới hạn của “tính bảo mật” phụ thuộc vào quy định của các nguồn luật cụ thể điều chỉnh tố tụng trọng tài. Và thậm chí, phán quyết trọng tài có thể bị tòa án có thẩm quyền tuyên hủy, nếu không tuân thủ “tính bảo mật”.[3] Vì vậy, trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày “tính bảo mật” trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài tại Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Việt Nam. Trên cơ sở đó, đưa ra bình luận, cùng những đề xuất, nhằm thực thi hiệu quả “tính bảo mật” trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài tại Việt Nam.

1. “Tính bảo mật” trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài tại Vương quốc Anh (United Kingdom – UK)

Tại Vương quốc Anh, hoạt động giải quyết tranh chấp tại trọng tài được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật Trọng tài năm 1996 (Arbitration Act 1996).[4] Theo quy định tại Mục 2 (Section 2), phạm vi điều chỉnh của Luật Trọng tài năm 1996 rất rộng:

Thứ nhất, Luật này có hiệu lực với những trọng tài có nơi tiến hành trọng tài tại Anh, xứ Wales hoặc Bắc Ireland.[5]

Thứ hai, nếu trọng tài được tiến hành bên ngoài nước Anh và xứ Wales hoặc Bắc Ireland hoặc không xác định được nơi tiến hành trọng tài, thì trọng tài có thể bị điều chỉnh bởi các mục: (a) các Mục từ 9 đến 11 (các thủ tục pháp lý), và (b) Mục 66 (thi hành phán quyết trọng tài).

Nhưng, Luật Trọng tài năm 1996 lại không có quy định cụ thể nào về tính bảo mật của trọng tài. Do đó, vấn đề này được xác định thông qua thực tiễn xét xử tại tòa án của Vương quốc Anh.

Thực tiễn xét xử tại tòa án của Vương quốc Anh cho thấy, bảo mật các vấn đề liên quan đến phiên họp xét xử, đến các tài liệu được công bố hoặc đưa ra trong quá trình giải quyết tranh chấp là nghĩa vụ của các bên và của trọng tài viên: “Trừ trường hợp ngoại lệ, tất cả tài liệu được tạo ra hoặc được tiết lộ trong tố tụng trọng tài phải được bảo mật. Tài liệu được đưa ra nhằm mục đích giải quyết tranh chấp tại trọng tài phải bảo mật, vì đây là nội dung được ngầm hiểu khi các bên có thỏa thuận lựa chọn trọng tài thay vì tố tụng tại tòa án. Nghĩa vụ bảo mật cũng áp dụng với các bản biên hộ, lập luận, biên bản, các chứng cứ và lời khai của nhân chứng.”[6] Nếu cho phép công khai các tài liệu trên cho bên thứ ba, thì sẽ làm thay đổi tính chất “tư” của trọng tài.

Tuy nhiên, các phán quyết được bảo mật, trừ trường hợp sử dụng để thực thi hoặc khiếu nại về phán quyết trọng tài. Nghĩa vụ bảo mật các bản biên hộ, lập luật, biên bản, các chứng cứ và lời khai của nhân chứng cũng có ngoại lệ, đó là khi cần thiết để bảo vệ lợi ích hợp pháp của một bên tranh chấp, của trọng tài hoặc thiết lập quyền với bên thứ ba.[7]

Hiện nay, các phán quyết của trọng tài, của tòa án các quốc gia liên quan đến Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) được công bố rất nhiều trên website chính thức của Ủy ban của Liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL)[8] và của Đại học Pace (Hoa Kỳ).[9] Song, phán quyết của trọng tài tại Vương quốc Anh không được công khai. Trên website của UNCITRAL có 22 phán quyết của tòa án Vương quốc Anh,[10] không có phán quyết trọng tài nào được công bố. Và trên website của Đại học Pace (Hoa Kỳ) chỉ có 07 phán quyết của tòa án Vương quốc Anh.[11]

Trên thực tế, Tòa trọng tài quốc tế London (London Court of International Arbitration – LCIA) là một trung tâm trọng tài nổi tiếng tại Vương quốc Anh, được thành lập từ năm 1883, cũng tuân thủ tuyệt đối “tính bảo mật”. Trên website chính thức của mình,[12] LCIA chỉ công khai các quyết định giải quyết khiếu nại (Challenge) về phán quyết trọng tài. Đến ngày 05/10/2018, có danh sách của 32 quyết định.[13] Trong các quyết định này, chỉ có phần tóm tắt ngắn gọn về vụ tranh chấp liên quan theo trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp. Phần tóm tắt này không phải phán quyết trọng tài, không nêu nội dung vụ tranh chấp và dài khoảng 01 đến 03 trang.

2. “Tính bảo mật” trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài tại Hoa Kỳ

Đạo luật cơ bản quy định về trọng tài tại Hoa Kỳ là Luật trọng tài liên bang Hoa Kỳ (US Federal Arbitration Act – FAA).[14] Đạo luật này cũng không quy định về “tính bảo mật” của trọng tài. Và thực tiễn xét xử tại tòa án của Hoa Kỳ lại trái ngược với thực tiễn của Vương quốc Anh. Tòa án tại Hoa Kỳ cho rằng, thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại trọng tài không được hiểu là thỏa thuận về tính bảo mật của trọng tài.[15] Nói chung, các vấn đề về quyền riêng tư và bảo mật phụ thuộc vào thỏa thuận của các bên và bất kỳ điều khoản nào trong các quy tắc trọng tài được các bên lựa chọn.

Trong Quy tắc đạo đức nghề nghiệp (AAA Statement of Ethical Principles ) do Hiệp hội trọng tài Hoa Kỳ (American Arbitration Association – AAA) ban hành có quy định về “tính bảo mật” (Confidentiality):

Thủ tục tố tụng trọng tài là một quy trình không công khai. Các nhân viên của AAA có nghĩa vụ đạo đức về bảo mật thông tin. Tuy nhiên, AAA không can thiệp việc liệu các bên nên hoặc không nên thỏa thuận về bảo mật thủ tụcphán quyết trọng tài giữa họ hay không. Các bên luôn có quyền tiết lộ thông tin, trừ khi họ có thỏa thuận bảo mật (confidentiality agreement) cụ thể.[16]

Và “Trọng tài được bảo mật nếu các bên tranh chấp thỏa thuận như vậy, theo các quy tắc và thủ tục của AAA được công bố trên website chính thức và trong ấn phẩm do AAA phát hành.”[17]

Theo đó, Quy tắc đạo đức nghề nghiệp của Hiệp hội trọng tài Hoa Kỳ cũng đồng nhất với Luật trọng tài liên bang Hoa Kỳ. Giải quyết tranh chấp tại trọng tài được thừa nhận có có “tính bảo mật”. Nhưng chỉ khi các bên có thỏa thuận bảo mật, thì thủ tục và phán quyết trọng tài giữa họ mới được bảo mật.

3. “Tính bảo mật” trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài tại Trung Quốc

Tại Trung Quốc, văn bản trực tiếp điều chỉnh hoạt động trọng tài là Luật trọng tài năm 1994 (Arbitration Law 1994).[18] Văn bản này quy định về “tính bảo mật” trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài tại Điều 40 như sau: Trọng tài phải được tiến hành không công khai. Nếu các bên đồng ý tiến hành công khai, trọng tài có thể công bố các thông tin của vụ tranh chấp, trừ các thông tin liên quan đến bí mật của Nhà nước.”           

Thực tế, các trung tâm trọng tài có thể tự quy định vấn đề này trong Quy tắc trọng tài của mình. Ví dụ, Ủy ban Trọng tài kinh tế và thương mại quốc tế Trung Quốc (China International Economic and Trade Arbitration Commission – CIETAC) đã ban hành Quy tắc trọng tài (Arbitration Rules) của mình và trong đó có quy định về tính bảo mật tại Điều 38:

1. Phiên họp xét xử của trọng tài là họp kín. Trong trường hợp cả hai bên yêu cầu phiên xét xử công khai, thì Hội đồng trọng tài sẽ ra quyết định.       

  1. Đối với trường hợp họp kín, các bên và đại diện của họ, trọng tài viên, nhân chứng, thông dịch viên, chuyên gia, người thẩm định do Hội đồng trọng tài bổ nhiệm và những người liên quan khác không tiết lộ cho bất kỳ người ngoài nào thông tin hoặc các vấn đề về thủ tục liên quan đến vụ tranh chấp.”[19]

Thực tế, CIETAC thường công bố rộng rãi các phán quyết giải quyết tranh chấp của mình. Tuy nhiên, họ vẫn tuân thủ nguyên tắc bảo mật, trước khi công bố, tất cả các phán quyết của CIETAC đều được chỉnh sửa, tránh việc người đọc có thể tự xác định được danh tính các bên tranh chấp. Đồng thời, như một quy tắc chung, những phán quyết đã ban hành được đủ ba năm, thì CIETAC mới cho phép công bố. Thậm chí, có tác giả còn nhận định “CIETAC là một trong những trung tâm trọng tài đi đầu về việc minh bạch các phán quyết, theo nghĩa, CIETAC đã chia sẻ với cộng đồng thương mại thế giới những văn bản đầy đủ của phán quyết liên quan đến luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhiều hơn bất kỳ một tổ chức trọng tài nào khác”.[20] Trên trên website của Đại học Pace (Hoa Kỳ), số phán quyết của CIETAC liên quan đến CISG đã được tập hợp và thống kê lên đến 321 phán quyết.[21]

4. “Tính bảo mật” trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài tại Việt Nam

Tại Việt Nam, mặc dù không sử dụng thuật ngữ “tính bảo mật”, song cũng có thể khẳng định tính bảo mật có được quy định trong pháp luật trọng tài. Cụ thể, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định tại:

– Khoản 4 Điều 4. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài quy định: “Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.”

Khoản 1 Điều 55. Thành phần, thủ tục phiên họp giải quyết tranh chấp quy định:“Phiên họp giải quyết tranh chấp được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.”

 Nhưng, tiến hành “không công khai” không đồng nghĩa với việc mọi thông tin được đưa ra trao đổi giữa các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp phải được giữ bí mật.

Ngoài ra, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 chỉ quy định về nghĩa vụ đối với trọng tài viên tại Điều 21 về vấn đề bảo mật: “…3. Từ chối cung cấp các thông tin liên quan đến vụ tranh chấp…5. Giữ bí mật nội dung vụ tranh chấp mà mình giải quyết, trừ trường hợp phải cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật…7. Tuân thủ quy tắc đạo đức nghề nghiệp.” Mà không có quy định với các chủ thể khác cũng tham gia phiên xét xử của trọng tài, như các bên tranh chấp, chuyên gia, nhân chứng, hoặc luật sư.

Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật trọng tài thương mại năm 2010 như Nghị định số 63/2011/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 28 tháng 07 năm 2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật trọng tài thương mại và Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao ban hành ngày 20 tháng 3 năm 2014 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật trọng tài thương mại cũng không có quy định cụ thể hơn về việc “giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai” là như thế nào? Và “trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác” là thỏa thuận gì?

Song, thực tế tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC),[22] tính bảo mật của giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại trọng tài được trung tâm này quy định trong Quy tắc tố tụng trọng tài năm 2017[23] và Quy tắc đạo đức của Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam năm 2015,[24] nhưng chỉ áp dụng với trọng tài viên. Thêm vào đó, Trung tâm trọng tài này cũng đã công bố ấn phẩm “50 phán quyết trọng tài quốc tế chọn lọc” trên cơ sở các phán quyết tại Trung tâm và công bố trên website chính thức.[25]

5. Một số bình luận và kiến nghị nhằm thực thi hiệu quả “tính bảo mật” trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài tại Việt Nam

Thực tiễn quy định và áp dụng “tính bảo mật” trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại trọng tài của Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và Trung Quốc nêu trên cho thấy:

Thứ nhất, “tính bảo mật” đều được thừa nhận là một trong những đặc điểm của trọng tài, cũng là ưu điểm so với cơ chế giải quyết tranh chấp tại tòa án quốc gia.

Thứ hai, có hai cách tiếp cận về nội dung của “tính bảo mật” trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại trọng tài:

(i) Cách tiếp cận thứ nhất: “tính bảo mật” phải được tuân thủ tuyệt đối bởi các bên tranh chấp, trọng tài viên, nhân chứng và các chuyên gia tham gia tố tụng trọng tài; tất cả tài liệu được tạo ra hoặc được tiết lộ trong tố tụng trọng tài phải được bảo mật; và các bên không cần thiết phải thỏa thuận về vấn đề bảo mật, bởi nội dung này sẽ được ngầm hiểu khi các bên có thỏa thuận lựa chọn trọng tài;

(ii) Cách tiếp cận thứ hai: “tính bảo mật” sẽ không được mặc nhiên thừa nhận khi các bên thỏa thuận lựa chọn trọng tài. Tính bảo mật khi giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại trọng tài có được tuân thủ hay không phụ thuộc vào thỏa thuận của các bên và bất kỳ điều khoản nào trong các quy tắc trọng tài được các bên lựa chọn.

Thứ ba, nhiều trung tâm trọng tài công bố rộng rãi các phán quyết của mình. Song, khi công bố, các trung tâm vẫn phải tuân thủ “tính bảo mật”, bằng cách: trước khi công bố, các phán quyết sẽ được chỉnh sửa, tránh việc người đọc có thể tự xác định được danh tính các bên tranh chấp. Đồng thời, những phán quyết đã ban hành được một thời gian đủ dài mới được công bố (tại CIETAC, thời gian này là đủ ba năm, kể từ khi ban hành).

Về “tính bảo mật” trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại trọng tài của Việt Nam như đã nêu cũng chưa thể hiện rõ là theo cách tiếp cận nào trong hai cách tiếp cận được trình bày ở trên. Do đó, để đảm bảo chắc chắn hơn về các thông tin, tài liệu được cung cấp trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại trọng tài Việt Nam được “bảo mật” từ phía trọng tài viên, và tất cả các chủ thể khác tham gia giải quyết tranh chấp, tác giả đưa ra hai đề xuất:

Thứ nhất, các bên tranh chấp nên có thêm một “thỏa thuận bảo mật” cùng với “thỏa thuận trọng tài”. Nội dung của thỏa thuận bảo mật có thể được hỗ trợ soạn thảo bởi điều khoản mẫu của các trung tâm trọng tài;- Thứ hai, đảm bảo khả năng thực thi “tính bảo mật” khi các bên muốn giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại trọng tài không công khai bằng cách hướng dẫn và quy định chi tiết Khoản 4 Điều 4 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 theo hướng: Đối với trường hợp có thỏa thuận bảo mật, các bên và đại diện của họ, trọng tài viên, nhân chứng, thông dịch viên, chuyên gia, người thẩm định và những người liên quan khác không tiết lộ bất kỳ thông tin nào, cũng như các vấn đề về thủ tục liên quan đến vụ tranh chấp.

Ngoài ra, việc các phán quyết do trọng tài ban hành được công khai cũng có mặt tích cực là góp phần làm phong phú thêm một nguồn luật giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, đó là án lệ quốc tế. Các án lệ này không chỉ đảm bảo tính nhất quán trong áp dụng pháp luật, mà còn tạo ra tính có thể dự đoán trước về mặt pháp lí khi tham gia giải quyết tranh chấp tại trọng tài. Vì vậy, khi quy định về “tính bảo mật”, pháp luật trọng tài của Việt Nam cũng cần xác định thêm về giới hạn bảo mật đối với việc công bố phán quyết trọng tài./.

[1] Daniel R. Bennett, Q.C. and Madeleine A. Hodgson, “Confidentiality in Arbitration: A Principled Approach”, McGill Journal of Dispute resolution, VOL 3 (2016-2017), p.99, xem tại: mjdr-rrdm.ca/law/wp-content/uploads/2017/02/Bennett-Hodgson.pdf (truy cập ngày 05/10/2018)

[2] Saverio Lembo and Vincent Guignet, “Switzerland: Confidentiality In Arbitration: From Myth To Reality”, xem tại: http://www.mondaq.com/x/475674/Arbitration+Dispute+Resolution/Confidentiality+in+Arbitration (truy cập ngày 05/10/2018)

[3] Một trong những trường hợp hủy phán quyết trọng tài theo quy định Luật Mẫu của UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc tế năm 1985, và sửa đổi, bổ sung năm 2006, được nhiều quốc gia tham khảo, quy định trong pháp luật trong nước là: “việc tiến hành tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc không phù hợp với luật này, nếu các bên không có thỏa thuận” (Điều 34 khoản 2 điểm a).

[4] The National Archives, “Arbitration Act 1996”, xem tại:

https://www.legislation.gov.uk/ukpga/1996/23 (truy cập ngày 05/10/2018)

[5] Nơi tiến hành trọng tài được xác định theo Section 3 (The seat of the arbitration) của Luật Trọng tài năm 1996.

[6] Daniel R. Bennett, Q.C. and Madeleine A. Hodgson, “Confidentiality in Arbitration: A Principled Approach”, McGill Journal of Dispute resolution, VOL 3 (2016-2017), p.104, xem tại: mjdr-rrdm.ca/law/wp-content/uploads/2017/02/Bennett-Hodgson.pdf (truy cập ngày 05/10/2018)

[7] Như trên.

[8] Xem tại: http://www.uncitral.org/ (truy cập ngày 05/10/2018)

[9] Xem tại: http://cisgw3.law.pace.edu/ (truy cập ngày 05/10/2018)

[10] UNCITRAL, http://www.uncitral.org/clout/search.jspx?f=en%23cloutDocument.country-ref0_s%3aUnited%5c+Kingdom%5c+of%5c+Great%5c+Britain%5c+and%5c+Northern%5c+Ireland  (truy cập ngày 05/10/2018)

[11] Pace Law School, Pace University, “CISG Database – Country Case Schedule”, xem tại: http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/casecit.html (truy cập ngày 05/10/2018)

[12] Xem tại: http://www.lcia.org/ (truy cập ngày 05/10/2018)

[13] LCIA, “Challenge Decision Database”, xem tại: http://www.lcia.org/challenge-decision-database.aspx (truy cập ngày 05/10/2018)

[14] Legal Information Institue, Cornell Law School, “U.S. Code: Title 9 – ARBITRATION”, xem tại: https://www.law.cornell.edu/uscode/text/9  (truy cập ngày 05/10/2018)

[15] Daniel R. Bennett, Q.C. and Madeleine A. Hodgson, “Confidentiality in Arbitration: A Principled Approach”, McGill Journal of Dispute resolution, VOL 3 (2016-2017), p.106, xem tại: mjdr-rrdm.ca/law/wp-content/uploads/2017/02/Bennett-Hodgson.pdf (truy cập ngày 05/10/2018)

[16] AAA, “Statement of Ethical Principles”, xem tại: https://www.adr.org/StatementofEthicalPrinciples (truy cập ngày 05/10/2018)

[17] Như trên.

[18] Xem tại: https://www.jus.uio.no/lm/china.arbitration.law.1994/  (truy cập ngày 05/10/2018)

[19] CIETAC, “Arbitration Rules”, xem tại: http://www.cietac.org/index.php?m=Page&a=index&id=106&l=en (truy cập ngày 05/10/2018)

[20] See Kritzer, Albert (2008), “Application and Interpretation of the CISG in the P.R. of China – Progress in the Rule of Law in China”, in (40) Uniform Commercial Code Law Journal 2 at 261 to 268.

[21] CIETAC Arbitration Awards, First 321 CISG Case Translations, xem tại: http://cisgw3.law.pace.edu/cisg/text/CIETAC-awards.html (truy cập ngày 05/10/2018). Lưu ý: Đây không phải con số chính xác, bởi không phải phán quyết nào cũng được trọng tài công bố.

[22] Là tổ chức độc lập, uy tín và lâu đời nhất tại Việt Nam về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và hòa giải.

[23] VIAC, “Quy tắc tố tụng trọng tài năm 2017”, xem tại: http://viac.vn/quy-tac-to-tung-trong-tai/viac-quy-tac-to-tung-trong-tai-nam-2017-a733.html (truy cập ngày 05/10/2018)

[24] VIAC, “Quy tắc đạo đức của Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam năm 2015”, xem tại: http://viac.vn/quy-tac-dao-duc-trong-tai-vien-c157.html (truy cập ngày 05/10/2018)

[25] Xem tại: http://viac.vn/an-pham/50-phan-quyet-trong-tai-quoc-te-chon-loc-a178.html (truy cập ngày 05/10/2018)

Tác giả: Tào Thị Huệ

Giảng viên Khoa Pháp luật thương mại quốc tế – Trường Đại học Luật Hà Nội

Bài viết được đăng trên Tạp chí Nghề Luật số 1/2019

Leave A Reply

Your email address will not be published.

bokep-indo kendra squeezing your head with a scissorhold.
indian couple homemade. xnx
jav hub